Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

KLS: rồng vàng bao giờ thức giấc?

Nếu bình chọn 1 cổ phiếu khiến nhà đầu tư thất vọng nhất năm 2013 thì KLS là 1 ứng viên sáng giá. Dù được nhiều nhà đầu tư nhận định là cổ phiếu đang được giao dịch dưới giá trị, KLS vẫn quanh quẩn giá 10k, mặc cho các đối thủ khác như SSI, VND, BVS tăng giá ầm ầm vài chục phần trăm trước tết. Nếu bạn chọn dòng chứng khoán để bắt đầu năm dương lịch 2014 & chọn BVS để dành ăn tết thì đã tăng 17%, SSI tăng 27%, VND tăng 35% trong 1 tháng, trong khi đó KLS chỉ tăng trên dưới 10%.

Một đặc điểm thường thấy ở các cổ phiếu Net Net là hoạt động kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các cổ phiếu này thường không tốt, vì vậy giá cổ phiếu còn thấp hơn cả net working capital. KLS không phải ngoại lệ. Theo tôi tạm tính thì net net/share của KLS hiện gần 11k/ cổ phiếu (tính theo BCTC năm 2013), cao hơn 12% so với giá thị trường hiện tại. Với việc các cổ phiếu lớn dòng chứng tăng mạnh ( ngoại trừ AGR và KLS), KLS đã bị thị trường định giá thấp hơn nhiều so với các cổ phiếu chứng khoán vốn hóa lớn hơn 40 triệu USD. P/B của SSI hiện là 1.57, của VND là 1.11, BVS và KLS lần lượt là 0.8 & 0.78 (KLS lấy theo bctc Q4, các công ty còn lại tính theo bctc Q3).

Tôi chưa tìm hiểu nhiều về hoạt động kinh doanh của KLS, và cũng không biết có thông tin xấu nào của KLS chưa được công bố không. Hiện tại, KLS đã vượt qua vòng tính toán định lượng ban đầu của tôi về một cổ phiếu đang bị định giá rẻ, net working capital cao, không có nợ, thanh khoản cổ phiếu tốt, tiềm năng tăng trưởng lớn hơn so với rủi ro mất tiền. Trường hợp này tôi đánh giá xác suất chiến thắng của KLS cao hơn thua lỗ. Điều quan trọng khi đầu tư cổ phiếu net net là tiềm năng của nó không đủ hấp dẫn để bức phá mạnh như VND hay SSI đợt vừa rồi, vì vậy phải kiên nhẫn chờ đợt 1 chất xúc tác nào đó để thị trường đánh giá lại KLS, ví dụ như chia nhiều cổ tức, mua cổ phiếu quỹ khi doanh nghiệp chưa tìm được cách đầu tư tiền tốt. Tôi chọn mua rồng vàng đầu năm lấy may & sẵn sàng chờ vài tháng để rồng vàng thức giấc. Trong cuốn Dhandho Investor có 1 câu rất hay “Heads I win, Tails I Don't Lose Much”. Tôi nghĩ KLS là 1 cổ phiếu có tính chất này.

Đây là danh mục cổ phiếu KLS lập dự phòng giảm giá cuối năm 2013, sau 1 tháng thì danh mục này đã tăng được 8.3 tỉ. 

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Đầu tư vs đầu cơ: trăm năm lửa khói

Cũng giống như cuộc chiến TA FA, các tranh luận về đầu tư & đầu cơ vẫn diễn ra ác liệt từ ngày xửa ngay xưa & có lẽ chẳng bao giờ đến hồi kết. Về cơ bản, bạn là nhà đầu tư khi bạn mua cổ phiếu với những phân tích kĩ càng về giá trị của công ty, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu bạn là nhà đầu cơ, điều đầu tiên bạn quan tâm là dự đoán giá cổ phiếu sẽ chạy như thế nào và không quan tâm đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tại sao mua TCM giá 6 là đầu cơ mà mua giá 12 lại gọi là đầu tư? Lúc giá 6, với 1 số tin tốt là giá bông giảm, ban lãnh đạo thay đổi kế hoạch nhập nguyên liệu…nếu bạn đánh giá rõ ràng những  yếu tố đó ảnh hưởng cụ thể đến lợi nhuận doanh nghiệp như thế nào trong các quý/năm tới thì vẫn gọi là đầu tư. Còn nếu chỉ hi vọng những tin đó là chất xúc tác để cổ phiếu tăng giá và quyết định mua bắt đáy ngay thì gọi là đầu cơ. TCM lên 12, khi bức tranh đã sáng hơn, nhiều nhà đầu tư giỏi đã nghiên cứu rất kĩ và quyết định mua vì kì vọng lợi nhuận doanh nghiệp sẽ bền trong các quý tới, bất chấp giá cổ phiếu đã tăng gấp đôi từ đáy. Trong khi đó các nhà đầu cơ bắt đáy giá 6,7 thường sẽ bán vì rất quan tâm đến giá cổ phiếu đã tăng 100%, sắp đến vùng “xả hàng”. Mua giá 12 bán giá 24 cũng lãi 100%, mua giá cao hơn nhưng rủi ro chưa chắc cao hơn lúc mua tại đáy, và đòi hỏi phải nghiên cứu kĩ, tích lũy kiến thức.

Trong bài phỏng vấn năm 1976 cho Financial Analysts Journal, Graham cho rằng các nhà đầu tư ít kiến thức thường thích đầu cơ hơn. Tích lũy kiến thức là sự khác biệt giữa nhà đầu tư và nhà đầu cơ. Bạn càng có nhiều kiến thức hơn, càng sáng suốt hơn thì càng ít đầu cơ hơn, vì đầu tư cũng đem lại lợi nhuận rất cao với rủi ro thấp hơn đầu cơ rất nhiều.



 Tất nhiên, các nhà đầu cơ giỏi cũng có nhiều lí do để theo đuổi triết lí của mình. Đầu tư là một công việc nhàm chán, nghiên cứu lâu tốn công sức, lại phải chờ cho giá về dưới giá trị thực, biên an toàn cao mới mua. Mua xong lại đợi mãi đến khi thị trường nhận ra giá thị thật của cổ phiếu/công ty & kéo nó lên. Trong khi đó các cao thủ đầu cơ chỉ cần quan sát giá và khối lượng là có thể mua được trước khi giá tăng 1 thời gian ngắn và kiếm lãi nhanh, sau đó lại bán và nhảy sang cổ phiếu khác. E rất ngưỡng mộ sự nhạy bén của các nhà đầu cơ, nhưng biết rằng mình không có khả năng timing tốt như vậy nên chọn cách phù hợp hơn là ăn chắc mặc bền. Từ năm 2009 đến nay, trình độ phân tích cả về TA lẫn FA của các nhà đầu tư đã tăng rõ rệt. Và sự thật là trên các diễn đàn chứng khoán, trường phái đầu tư FA ngày càng nhiều lên, các thể loại chart huyền ảo nhiều indicators kì bí như giai đoạn 2011 ngày càng ít thấy. Phải chăng ở VN cũng vậy, khi kiến thức và tài sản càng tăng thì nhà đầu tư có xu hướng theo trường phái đầu tư, hoặc chí ít dân TA cũng không còn thuần TA 100% nữa mà đã quan tâm dần đến những yếu tố vĩ mô, kinh tế tác động đến doanh nghiệp?  


Tích lũy kiến thức là 1 chặng đường dài, và đó là cách mà Buffett & Munger đã làm để thành công. Buffett & Munger đã đọc và học rất nhiều về các nhà đầu tư thành công như Graham, Fisher… mở rộng vòng tròn năng lực của họ suốt cả cuộc đời đầu tư, và sau đó chia sẻ kiến thức lại cho thế hệ nhà đầu tư mới .  Trên chặng đường dài này, mỗi ngày hãy bước từng bước ngắn, tích lũy kiến thức và sự sáng suốt hơn ngày hôm qua một chút thôi, nhưng luôn sẵn sàng để bung sức bức tốc tối đa khi cơ hội tốt đến.

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Second level of thinking: suy nghĩ ở cấp độ cao hơn


Mục tiêu của mọi nhà đầu tư không phải mua cổ phiếu để kiếm được mức lãi bằng lãi suất ngân hàng. Mục tiêu của chúng ta là phải tốt hơn vài lần mức trung bình của thị trường. Rất nhiều nhà đầu tư có nền tảng tài chính tốt, học rộng hiểu nhiều, nhưng rất ít người duy trì được tỉ suất lợi nhuận cao và ổn định qua nhiều năm. Để lên tầm cao thủ nhất đẳng, bắn 1 phát xuyên táo cần tích lũy nhiều rất yếu tố cả về kiến thức, kinh nghiệm thực chiến. 1 trong số các yếu tố tiên quyết mà mọi nhà đầu tư thành công cần phải có, gọi là second level of thinking mà Howard Marks nói đến ở chương đầu của cuốn “ the most important thing”. Đọc sách này & các sách về đầu tư giá trị e rất tâm đắc ở chỗ những bài học để đầu tư giá trị thành công đều có thể áp dụng để thành công trong những lĩnh vực, công việc khác ngoài chứng khoán.

Tâm pháp “second level of thinking” không chỉ cho chúng ta chiêu thức để mua đáy chạy đỉnh, nhưng chỉ cho chúng ta biết rằng để đầu tư thành công lâu dài, suy nghĩ của bạn phải trên đám đông 1 bậc. Nhất là thị trường hiện nay, nhà đầu tư nào cũng trang bị vũ khí đến tận răng, nào là chart, cầy tơ, price action, thống kê PE, EBITDA vài giây là có. Vì vậy bạn phải suy nghĩ đúng & sâu hơn đám đông mới mong có được lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Marks đưa ra vài ví dụ đơn giản về first level of thinking đại ý như sau: “VNM là công ty tốt, tôi thích thương hiệu này & sẽ giữ nó lâu dài”. Second level of thinking suy nghĩ rằng: “ đúng là VNM rất tốt, nhưng ai cũng nghĩ VNM tốt, nên PE đã lên đến 18 rồi, liệu nó đã được định giá quá cao chưa?” 
  
First level of thinking nghĩ:” PVX lỗ nặng quá, chắc sắp phá sản rồi, giá nào cũng phải chạy”. Second level of thinking nghĩ: “ cổ phiếu mà ai cũng nghĩ sẽ phá sản, nếu không phá sản thì ăn gấp 2,3 lần không phải là khó, hãy thử theo dõi xem sao” ( ví dụ trên để minh họa, không có ý shọt VNM & mua PVX).
Một ví dụ sinh động hơn, ở topic DBC http://vfpress.vn/threads/dbc-tinh-hinh-cong-ty-va-bo-chi-so-uoc-gia.88769/page-3#post-234002, a Duy có nhiều chứng cứ thuyết phục cho thấy giá ngô giảm & DBC là 1 cổ phiếu rất triển vọng. Các phản biện của bác Mam Non, Chim Non, anh Goodwill chính là minh họa rõ nét nhất về 2nd level of thinking. Họ không tin ngay vào nhận định của 1 ai mà đào sâu nghiên cứu, hỏi người trong ngành để đánh giá ảnh hưởng của việc giảm giá ngô, phán đoán thời điểm nào để đầu tư thích hợp nhất.
 
anh Comaogaotien nhận định thuyết phục rằng “Dù tin hay không, các tín hiệu vĩ mô và vi mô đang báo hiệu 2014 là năm khởi đầu cho một Mùa Xuân mới”, tôi hào hứng mua mai mua đào & full luôn margin vào đầu năm cho nó máu. Nhưng second level of thinking sẽ phải tự hỏi rất nhiều câu hỏi & làm rất nhiều bài tập để kết luận đúng là mùa xuân đến thật. Nếu thêm 1 level of thinking nữa, bạn hãy nghĩ rằng bình thường mùa xuân hoa nở ấm áp, nhưng lỡ gặp phải rét Nàng Bân thì cũng lạnh teo… đủ thứ cái. Thôi thì tiện thế lên kế hoạch luôn khả năng khi nào có rét nàng Bân, nếu có rét đến thật thì ứng phó như thế nào.


Cuốn the most important thinking có rất nhiều chương hay, nhưng tôi thích nhất chương second level of thinking. Không chỉ trong đầu tư mà cả trong công việc, cuộc sống cũng vậy, cần phải suy nghĩ sâu sắc hơn để hoàn thành trách nhiệm của mình trên mức khá.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Walter Schloss: học trò thành công nhất của Benjamin Graham

Mọi người đều biết đến cha đẻ của trường phái đầu tư giá trị là Graham. Buffett áp dụng 85% trường phái Graham và 15% trường phái Fisher để trở thành nhà đầu tư thành công nhất mọi thời đại (vì Ông dùng 15% độc chiêu của môn phái & sáng tạo ra trường phái riêng nên tôi không gọi Buffett là học trò thành công nhất của Graham) . Còn Schloss, Ông gần như áp dụng 100% chỉ bảo từ người thầy Graham để trở thành 1 nhà đầu tư giá trị vĩ đại, từng được Buffett gọi là “superinvestor”  trong các bức thư gửi cổ đông, cũng như trong các cuộc trò chuyện về đầu tư.

Không giống như Buffett, Schloss thường đa dạng hóa danh mục lên đến trên dưới 100 cổ phiếu. Thành tích của Ông là đem về trung bình cho các nhà đầu tư 15.3% trong suốt 47 năm (1955-2002), gấp đôi so với con số 7% return cuả chỉ số S&P. Dưới đây là 1 số điểm nổi bậc trong cuộc đời đầu tư của Walter Schloss:

Ông chỉ tốt nghiệp cấp 3 và không học đại học.
Năm 1934, Walter tròn 18 tuổi & bắt đầu làm việc tại Wall Street với vị trí binh bét trong 1 brokerage house. Nhiệm vụ của Ông chỉ là giao giấy đặt lệnh của nhà đầu tư & vận chuyển cổ phiếu lại cho họ (thời này chưa trade online). Ông rất đam mê đầu tư, & được 1 Đại Bàng phòng research trong firm(Mr. Erpf) chỉ bí kíp:“ mày muốn học đầu tư thì hãy đọc sách Securities Analysis của Graham cho thật kĩ. Đến khi hiểu mọi điều trong sách này là đủ, khỏi cần học ai và đọc thêm sách nào khác”.
Năm 1940 khi chiến tranh thế giới II đang diễn ra ác liệt, Ông quyết định  nghỉ làm để gia nhập quân đội chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Vài năm ở quân đội đã dạy Ông rất nhiều điều về đầu tư “ tôi học được rằng Tôi có thể sống sót ở TTCK, cũng giống như việc sống sót trên chiến trường, và đừng để mất tiền”.
Trong quân ngũ, ông có viết CV gửi cho Graham. Khi 1 analyst trong firm của Graham nghỉ, Graham đã mời Schloss vào thế chỗ ngày 2/1/1946 với mức lương 50 đô 1 tuần. Làm việc với Graham 10 năm, Schloss thấm nhuần tư tưởng của Graham và chỉ chuyên săn hàng net-net (cổ phiếu bán dưới net-net working capital).
Năm 1955, khi Graham giải nghệ về hưu, Schloss quyết định mở 1 quỹ riêng quản lý 100,000$.
Triết lý đầu tư của Schloss:
“Chúng tôi chỉ mua cổ phiếu rẻ”
Theo phong cách đầu tư giá trị của Graham suốt cuộc đời đầu tư của Ông.
Ông rất ít khi nói chuyện với lãnh đạo công ty bởi vì họ thường phóng đại performance & ảnh hưởng đến đánh giá của Ông. Vì vậy Schloss chỉ quan tâm đến số liệu báo cáo tài chính. Đặt biệt, Ông chú ý đến Balance sheet nhiều hơn báo cáo kết quả kinh doanh.
Ông thường chọn cổ phiếu có P/B & P/E thấp, ít nợ.
Ông thích cổ phiếu có chu kì và thường nghiên cứu về chu kì lợi nhuận của công ty trong 1 khoảng thời gian dài. Ông rất quan tâm đến balance sheet vì tài sản công ty thường ít biến động bằng lợi nhuận hàng năm.
Ông không thích mất tiền, vì vậy toàn chọn hàng giá rất rẻ và đa dạng hóa danh mục từ 60-100 cổ phiếu. Thời gian nắm giữ của Ông thường là 4 năm. Theo Ông, rất nhiều người học hỏi phong cách của Buffett và mơ ước đầu tư giỏi như Buffett. Nhưng nên nhớ rằng Buffett không chỉ phân tích cổ phiếu giỏi, mà Ông còn rất cao thủ trong việc đánh giá con người, đánh giá ban lãnh đạo & business. Ông biết mình thiếu những tố chất giống Buffett, nên có bắt chước cách đầu tư của Buffett cũng không thành công được . Vì vậy Ông chọn hướng đi riêng, phù hợp với tính cách và sở trường của Ông.

Nhà đầu tư huyền thoại này qua đời năm 2012 ở tuổi 95. 
Performance của Ông

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Nên nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu trong danh mục?

Dân đầu tư ai cũng biết nguyên tắc “ không nên bỏ tất cả trứng vào chung 1 giỏ”. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh đa dạng hóa danh mục sẽ giúp bạn hạn chế rủi ro mất tiền. Nhưng không phải ai cũng đồng ý với quan điểm trên. Triết lý của người giàu thứ 2 trong lịch sử thế giới (đã tính trượt giá lạm phát), ông vua thép Andrew Carnegie:” Hãy biết tập trung năng lượng, tâm trí và vốn liếng… Người đàn ông thông minh sẽ đặt mọi quả trứng anh ta có vào trong một chiếc giỏ và trông chừng nó.” Còn các nhà đầu tư lừng lẫy trên thế giới, như Buffett, Fisher, Graham…họ bỏ trứng vào bao nhiêu giỏ?

Hãy bắt đầu từ cách bỏ trứng của Ben Graham- người khai sinh ra trường phái đầu tư giá trị. Trong chương 5 của quyển “ Nhà đầu tư thông minh”, ông khuyên chúng ta nên đa dạng hóa danh mục 1 cách vừa phải, ít nhất 10 cổ phiếu & tối đa 30 cổ phiếu trong danh mục. Những công ty đầu tư vào cần phải lớn, nổi bậc & có tình hình tài chính ổn.
Năm 1952, Harry Markowitz ủng hộ quan điểm của Graham và cho rằng nếu chúng ta tập trung quá nhiều vốn vào vài mã cổ phiếu thì sẽ không hiệu quả & nhiều rủi ro. Không dừng lại ở đó, Ông còn mô hình hóa quá trình lựa chọn danh mục đầu tư  để cho thấy một cách chính xác làm thế nào nhà đầu tư có thể làm giảm độ lệch chuẩn của lợi nhuận danh mục cổ phiếu của mình bằng cách chọn các cổ phiếu không biến thiên cùng với nhau. Nghiên cứu này còn giúp Ông đoạt giải Nobel năm 1990.
Ngược lại với 2 đại cao thủ này,năm 1934 John Maynard Keynes cho rằng phương pháp đầu tư đúng đắn là bỏ 1 số tiền lớn vào 1 số ít doanh nghiệp mà chúng ta hiểu rõ về nó: “ sẽ là sai lầm nếu bạn cho rằng có thể hạn chế rủi ro bằng cách rải tiền vào quá nhiều doanh nghiệp mà bạn chẳng hiểu gì về nó, và chẳng có lí do nào để tự tin vào tương lai của doanh nghiệp đó.” Theo Keynes, tại 1 thời điểm mà đầu tư trên 3 cổ phiếu là quá nhiều. Tốt nhất nên gửi trọn niềm tin vào 1-3 cổ phiếu mà bạn tự tin nhất.
Trong thư gửi cổ đông Berkshire Hathaway năm 1991, Buffett ủng hộ quan điểm của Keynes và cho rằng thật sai lầm nếu dạy các nhà đầu tư phải đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro. Sự nguy hiểm của việc bỏ trứng vào quá nhiều giỏ đó là bạn không thể quan sát tất cả trứng của bạn trong nhiều giỏ được. Buffett đã học được từ Fisher rằng:” mua nhiều cổ phiếu mà không bỏ thời gian ra để hiểu cặn kẽ business của những doanh nghiệp đó còn rủi ro hơn nhiều so với danh mục tập trung”. Trong thư gửi cổ đông năm 1993, Ông tiếp tục ủng hộ danh mục tập trung vài cổ phiếu khi đưa ra quan điểm “nếu bạn là nhà đầu tư có hiểu biết, có thể hiểu được business và tìm được 5-10 công ty tốt với mức giá hợp lí có lợi thế cạnh tranh lâu dài, lúc này thuyết đa dạng hóa chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Trái lại nó còn làm giảm lợi nhuận của bạn.”2 cao thủ nhất đẳng Buffett và Charlie mỗi năm chỉ chọn 1 công ty để mua. Sau nhiều năm chinh chiến, đôi bạn già này thấy rằng trong cuộc đời đầu tư quá khó để có thể đưa ra hàng trăm quyết định thông minh sáng suốt. Vì vậy 2 Ông dành toàn bộ kinh nghiệm, thời gian & trí tuệ của mình lọc trong hàng trăm cổ phiếu tiềm năng, chỉ chọn 1 cổ phiếu ưng ý nhất để đầu tư.  
 Seth Klarman viết trong cuốn “Margin of safety” cũng trình bày quan điểm này của Buffett, nhà đầu tư hiểu thật nhiều về 1 cổ phiếu & tự tin nắm giữ nó sẽ tốt hơn là mua nhiều cổ phiếu & biết mỗi công ty 1 chút. Số lượng cổ phiếu trong danh mục mà Klarman khuyến nghị là từ 10-15 cổ phiếu.

Tóm lại, số lượng cổ phiếu tối ưu tại 1 thời điểm theo sự chỉ dạy của các đại cao thủ đầu tư trên thế giới như sau:
Ben Graham: 10-30 công ty lớn, có tiềm năng & tài chính tốt.
John Keynes : 2-3 cổ phiếu thôi, nhưng hiểu thật kĩ trước khi xuống tiền.
Warren Buffett: 5-10 cổ phiếu, hiểu về lợi thế cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp & mua với giá hợp lí.
Seth Klarman: 10-15 cổ phiếu, biết ít nhưng mà chất. Biết mỗi thứ 1 ít thì cũng như không, vì ai cũng chém gió được.
Cá nhân e thì danh mục chỉ gồm 1-2 cổ phiếu thôi, không phải vì e hiểu doanh nghiệp nên không đa dạng hóa, mà vì vốn bé quá, mua 1 phát tất tay, buy and pray cho nhanh, khỏi đa dạng hóa mất công đặt lệnh.

Còn theo các bạn, nếu có trong tay 1 tỉ đồng trở lên thì bạn sẽ nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu?   

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Charlie Munger- phó tướng của Buffett

Charile Munger là 1 tên tuổi lớn xứng đáng nằm trong ngôi đền huyền thoại của các nhà đầu tư giá trị. Kể từ khi làm việc chung với W. Buffett từ năm 1959, Ông luôn là cánh tay phải đắc lực của WB, giúp WB bổ sung khuyết điểm rất nhiều & góp phần xây dựng đế chế Berkshire Hathaway hùng mạnh như ngày nay. Lão tướng Charlie Munger năm nay 89 tuổi, hiện là chủ tịch của tập đoàn tài chính Wesco và đồng thời là phó chủ tịch Berkshire Hathaway, với gia tài trị giá 1.2 tỉ USD (9/2013).
Dưới đây là chiến tích của cá nhân Charlie giai đoạn 1962-1975 (không có sự trợ giúp của Buffett)


Từ năm 1962-1975 Munger kiếm được trung bình 19.8% mỗi năm, trong khi đó chỉ số DJ chỉ tăng trung bình 4.9%. Năm 2002, Ông quản lý danh mục đầu tư của the Daily Journal trị giá 4.3 triệu đô, đến năm 2012 danh mục này đã tăng 19 lần (76.7 triệu $).

Munger sinh ở Omaha ngày 1/1/1924. Ông từng học toán ở University of Michigan & tốt nghiệp trường luật Harvard năm 1948. Sau đó Charile bắt đầu tập trung vào đầu tư. Giai đoạn đầu đời của Charile là 1 tấm bi kịch. Ông lập gia đình năm 21 tuổi (sớm quá, chắc bác sĩ bảo cưới). Cuộc hôn nhân chỉ kéo dài 8 năm & đổ vỡ, người vợ lấy hết gia tài của Ông. Charlie cùng cậu con trai 8 tuổi Teddy Munger rời khỏi nhà với 2 bàn tay trắng. 1 năm sau, Teddy qua đời vì căn bệnh ung thư, Charile sụp đổ vì mất tất cả. Không những vậy, 1 con mắt của ông bị hỏng vĩnh viễn. Năm 35 tuổi, Ông đi bước nữa, vài đến giờ Ông đã có  đứa con & 1 đàn cháu chắt đủ lập vài đội bóng. Năm 25 tuổi lương hàng năm của Ông là khoảng 30,000 Đô, còn hiện nay gia tài Ông đã hơn 1 tỉ USD. Năm 69 tuổi, Munger đã năm trong top 400 người giàu nhất thế giới.

Cũng giống như Buffett, Munger rất rộng rãi trong việc quyên góp, từ thiện bằng cả tiền mặt và cổ phiếu. Mặt dù bỏ nghề luật từ rất sớm nhưng Ông vẫn đóng góp số cổ phiếu trị giá 43.5 triệu USD cho khoa luật của trường Stardford để tạo điều kiện học tập tốt hơn cho sinh viên. Năm 2007, ông cũng quyên góp 3 triệu USD cho University of Michigan Law School.
    
Về triết lý đầu tư, Ông cũng đầu tư theo trường phái giá trị của Graham, tập trung vào các business undervalued và có economic moats. Một số câu nói nổi tiếng của Charile:
“Tất cả những nhà đầu tư thông minh là nhà đầu tư giá trị- kiếm được nhiều tiền hơn số tiền bạn đã trả. Bạn phải định giá được business để có thể định giá cổ phiếu”
“Mỗi ngày, hãy cố gắng trở nên sáng suốt hơn một chút so với lúc bạn mới ngủ dậy”
“ Trong cả cuộc đời, tôi chưa biết một ai thông minh mà lười đọc sách-không một ai! Bạn sẽ kinh ngạc nếu biết tôi & Buffett đọc nhiều như thế nào”
“Đam mê và tài năng bẩm sinh, điều gì quan trọng hơn? Mọi người ở Berkshire đều có một niềm đam mê đặc biệt với công việc của họ. Với tôi, đam mê quan trọng hơn sự thông minh.”
“ Đừng làm việc với người bạn không ngưỡng mộ & không muốn làm việc chung”
 “ mua 1 công ty tuyệt vời với mức giá hợp lý tốt hơn nhiều lần so với 1 công ty bình thường với mức giá tuyệt vời”


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Thị trường có hiệu quả?

 Hầu hết các học thuyết tài chính hiện đại đều dựa trên giả định thị trường hiệu quả: thị trường đã phản ánh đầy đủ, chính xác & ngay lập tức tất cả các thông tin có thể có được vào giá chứng khoán. Tuy nhiên, Efficient market hypothesis (EMH) không được chấp nhận tuyệt đối. Từ ngày EHM được khai sinh, có rất nhiều nghiên cứu để ủng hộ và phản đối thuyết này.

Trong 1 bài viết về EMH trên Financial Time năm 2009, Thaler nhận xét rằng “ giá chứng khoán luôn đúng” và “ không có bữa ăn nào miễn phí”. Ngụ ý của Thaler rằng giá chứng khoán đã phản ánh mọi thông tin của thị trường, và rất có để các nhà đầu tư có thể đánh bại thị trường năm này qua năm khác. Ngoại trừ những nhà đầu tư đặc biệt siêu cấp như Buffett thì hầu hết đều thua thị trường nếu xét trong 1 thời gian dài.
Khái niệm bước đi ngẫu nhiên đã có từ đầu thế kỷ 20, nhưng đến năm 1970, Fama mới định nghĩa cụ thể & dễ hiểu về EMH. Ông đưa ra 3 khái niệm của thị trường hiệu quả: Dạng yếu, dạng khá mạnh & mạnh. EMH dạng yếu giả định rằng mọi thông tin quá khứ về giá & khối lượng đã phản ánh đầy đủ vào giá chứng khoán. Vì vậy nếu thị trường ở dạng hiệu quả yếu, phân tích kĩ thuật không thể kiếm lợi nhuận phi thường được. Dạng mạnh vừa giả định rằng mọi thông tin quá khứ và hiện tại đã phản ánh hết vào giá, vì vậy cả TA & FA đều không thể dùng để kiếm abnormal return được. Thị trường hiệu quả dạng mạnh giả định mọi thông tin quá khứ hiện tại, đã công bố hay chưa công bố, tin mật của đội lái…đều được phản ánh hết vào giá. Vì vậy ngay cả có tin nội dán trong công ty cũng không thể kiếm được lợi nhuận phi thường, vì chỉ vài giây là là mọi thông tin public lên VFpress cả.

Ý tưởng về EMH được ra đời ở đầu thế kỷ 20. Năm 1990, cầu thủ người Pháp tên Frank Ribery-à không phải, nhà toán học người Pháp tên Louis Bachelier nộp luận án Tiến sĩ với tựa đề “đầu cơ chân kinh” (The Theory of Speculation) và miêu tả rằng bước đi của thị trường là ngẫu nhiên. Ngay đoạn mở đầu, Ông viết: “ thông tin quá khứ, hiện tại, thậm chí cả tương lai đều phản ánh cả vào giá cổ phiếu, nhưng thường không thể hiện 1 mối liên hệ rõ ràng với sự biến động giá hàng ngày”. Sau đó,có  nhiều nghiên cứu thực nghiệm, thống kê để bảo vệ EHM (phần lớn các nghiên cứu thống kê thị trường chứng khoán nhằm vào dạng weak EHM). Rất nhiều thống kê cho rằng không thể dùng biến động giá quá khứ để dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai (kháng cự vững mấy mà có đội lái xịn là khoan thủng hết, gặp kháng cự, tin tưởng biểu đồ giá quá khư bán là mất hàng ráng chịu :D ). Năm 1965, Fama nghiên cứu và kết luận rằng biến động hằng ngày của giá cổ phiếu gần như chẳng liên quan gì đến nhau (zero positive correlation). Năm 1973, Malkiel dùng 1 thực nghiệm rất thuyết phục để chứng minh bước đi ngẫu nhiên của giá cổ phiếu & dìm hàng dân phân tích kĩ thuật (chartist). Ông giả định 1 cổ phiếu ABC giá 50$ & cho đám sinh viên gieo đồng xu. Nếu mặt xấp thì giá cổ phiếu ABC tăng 1$, mặt ngửa thì giảm 1$. Mỗi lần gieo, cơ hội giá cổ phiếu tăng giảm so với phiên trước là 50/50. Sau đó Ông thu thập data lại và vẽ chart theo đúng kết quả gieo đồng xu ngẫu nhiên cho 1 chuyên gia PTKT xem. Chartist này khuyên ông hãy mua cổ phiếu ABC ngay, cốc tay cầm rõ ràng, không mua nhanh tàu chạy mất. Sau khi Malkiel nói rằng Tao gieo xu vẽ chart chọc mày chơi thôi, chartist này rất tức giận.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu nhằm vào các Active manager để chứng minh rằng có cố mấy thì xác suất thắng thị trường cũng 50/50. Cowles (1933) phân tích hàng ngàn cổ phiếu được chọn bởi các chuyên gia từ năm 1928-1933 và cho thấy rằng khả năng chọn hàng chiến của các chuyên gia cũng hên xui. Năm 1967, Jensen cũng làm 1 phân tích định lượng hoành tráng, dùng danh mục của 115 mutual funds chạy hồi quy. Kết quả fund return sau khi trừ phí quản lí thì còn thấp hơn cả S&P 500. Thực nghiệm gần đay của VFpress gây được tiếng vang lớn đó là cuộc thi “ai kiếm tiền hơn học sinh lớp 2”, các cháu lớp 2 không biết cổ phiếu là gì vẫn đánh bại được thị trường (chẳng bù cho bố & các chú của cháu, học hành đánh đấm đủ thể loại vẫn lõm).
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều nghiên cứu cho rằng thị trường không hiệu quả, ít nhất trong 1 số thời điểm nhất định nào đó. Tiêu biểu là nghiên cứu về “hiệu ứng tháng Giêng” của Kinney năm 1976: tháng Giêng thường lợi nhuận đầu tư cổ phiếu cao hơn các tháng khác. Hoặc “hiệu ứng ngày thứ Hai” của Gibbons năm 1981 cho thấy giá cổ phiếu thường giảm vào ngày thứ 2. (hôm qua thứ 2 VN-index cũng mất điểm).
(còn tiếp...)